Biểu hịne rối lonạ tiêu hóa ký sinh đường ruột năm 2024

Điều kiện khí hậu nhiệt đới tại nước ta nóng ẩm, mưa nhiều tạo thuận lợi cho ký sinh trùng phát tán, sinh sôi. Bên cạnh đó, tập tục sinh hoạt cũng sẽ tạo điều kiện cho ký sinh trùng có cơ hội “tấn công” con người.

Nhiễm ký sinh trùng có thể âm thầm hoặc có dấu hiệu cảnh báo, nhưng dễ trùng lặp với rất nhiều bệnh lý thường gặp. Ngoài ra, bệnh nhiễm ký sinh trùng do đa dạng chủng loại nên cũng có những biểu hiện khác nhau. Tuy nhiên, người nhiễm ký sinh trùng có thể gặp những biểu hiện dưới đây:

1/ Ngứa hoặc nổi mề đay

Bệnh ký sinh trùng ở người sẽ gây ra một số vấn đề trên da như phát ban đỏ, chàm, dị ứng. Ngoài ra, các chất thải từ ký sinh trùng tích tụ trong da lâu ngày sẽ dẫn đến sưng tấy, tổn thương da, gây viêm nhiễm.

2/ Sốt kéo dài

Nhiễm ký sinh trùng thường có dấu hiệu sốt kéo dài, có thể sốt cao kèm cơ thể rét run hoặc có thể sốt trong thời gian ngắn rồi cắt cơn. Đôi khi sốt kèm theo đau bụng, tiêu chảy, chán ăn…

3/ Bất thường ở hệ tiêu hóa

Rối loạn tiêu hóa hoặc có các biểu hiện tiêu chảy, đầy hơi, chướng bụng… là những dấu hiệu thường gặp ở người nhiễm ký sinh trùng đường tiêu hóa, nhưng rất dễ nhầm lẫn với các bệnh đường ruột khác. Chất thải ký sinh trùng có thể gây táo bón, đầy hơi, buồn nôn… cho người nhiễm bệnh.

4/ Sụt cân, suy dinh dưỡng

Nhiễm ký sinh trùng gây ảnh hưởng đến hoạt động đường ruột. Cơ thể người bệnh dễ gặp triệu chứng như táo bón, chán ăn, đau bụng, tiêu chảy… Ngoài ra, một số loài ký sinh trùng hút máu và dinh dưỡng từ vật chủ, điều này sẽ khiến vật chủ bị sụt cân, thậm chí suy dinh dưỡng.

5/ Ngứa vùng hậu môn

Ngứa hậu môn là đặc trưng của người nhiễm giun, đặc biệt là giun kim. Người nhiễm thường bị ngứa quanh hậu môn vào ban đêm, khi giun cái đẻ trứng.

6/ Thiếu máu

Phần lớn ký sinh trùng sau khi ký sinh vào cơ thể người sẽ hút máu của vật chủ để duy trì sự sống, phát triển và sinh sôi. Do đó, người nhiễm ký sinh trùng nếu không được phát hiện có thể dẫn đến tình trạng bị thiếu máu.

Trên thực tế, khi ký sinh trùng xâm nhập vào cơ thể người có thể gây ra phản ứng ban đầu như sốt, ngứa. Những biểu hiện nhẹ ban đầu sẽ dễ dàng bị bỏ qua do nhầm lẫn với nhiều căn bệnh khác. Nhiều trường hợp nhiễm ký sinh trùng có biểu hiện âm thầm, chỉ được phát hiện khi vô tình đi khám sức khỏe định kỳ.

Tùy mỗi loại ký sinh trùng khác nhau, mà có các phương pháp xét nghiệm phù hợp như: Xét nghiệm phân, máu, sinh học phân tử PCR, ngoài ra có thể sử dụng thêm những phương pháp hỗ trợ để xác định chuẩn xác như máy CT, MRI… Vì vậy, khi có một trong các biểu hiện nghi ngờ thì cần tới cơ sở y tế để được thăm khám và điều trị.

Bệnh do ký sinh trùng đường ruột gây ra là một bệnh khá phổ biến ở nước ta. Bệnh chủ yếu lây truyền qua thức ăn, nước uống thiếu vệ sinh. Hầu hết bệnh do ký sinh trùng đường ruột không gây được miễn dịch bảo vệ và có khả năng tái nhiễm cao, do đó phòng bệnh và dùng thuốc vẫn là giải pháp chính để kiểm soát các loại bệnh này.

Bệnh do amip

Đây là bệnh do nhiễm đơn bào Entamoeba histolytica. Bệnh gây ra các tổn thương đặc trưng là loét ở niêm mạc đại tràng và có khả năng gây ra các ổ abces ở những cơ quan khác nhau. Bệnh có xu hướng kéo dài và mạn tính nếu không được điều trị tích cực. Bệnh lây qua đường tiêu hóa do thức ăn, nước uống nhiễm kén amip. Biểu hiện giai đoạn cấp là đau bụng, đại tiện nhiều lần phân ít, nhiều nhầy mũi máu, đau quặn bụng, đau rát hậu môn, sốt nhẹ; biểu hiện giai đoạn muộn chủ yếu là các triệu chứng đau dọc khung đại tràng, rối loạn tiêu hóa với các đợt táo lỏng xen kẽ; kèm theo có các đợt bùng phát lan tỏa giống giai đoạn cấp. Điều trị hiện nay chủ yếu dùng nhóm imidzole (metronidazole, tinidazole, ornidazole). Loại thuốc này có ưu điểm diệt được cả thể kén và thể đơn bào amip, nhưng khi dùng thuốc kéo dài cần lưu ý vì có thể gặp tác dụng phụ như chóng mặt, buồn nôn, nôn, đau vùng thượng vị, nổi mày đay... các dấu hiệu này thường nhẹ và hết sau khi cơ thể đào thải hết thuốc. Thuốc không dùng cho phụ nữ có thai 3 tháng đầu hoặc trong thời kỳ cho con bú.

Biểu hịne rối lonạ tiêu hóa ký sinh đường ruột năm 2024

Ký sinh trùng thâm nhập cơ thể qua đường miệng.

Nhiễm giun

Giun kim: Loại giun này chủ yếu gây nhiễm ở lứa tuổi trẻ em. Nhiễm do thức ăn hoặc nước bẩn có chứa trứng giun, nhiễm tự nhiên ở trẻ em theo đường phân - tay - miệng. Biểu hiện chủ yếu là trẻ em bị ngứa hậu môn làm mất ngủ, do gãi có thể gây ra các vết xước quanh hậu môn, trẻ gái có thể bị viêm âm hộ âm đạo. Điều trị bằng mebendazole, flubendazole hoặc albendazole.

Giun đũa: Bệnh do nhiễm loại Ascaris lumbricoides. Lây nhiễm do ăn hoặc uống nước có nhiễm trứng giun. Điều trị bằng mebendazole, flubendazole hoặc albendazole. Thuốc cần uống theo chỉ định của bác sĩ.

Giun móc: Bệnh thường gặp ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới có khí hậu nóng ẩm. Giun trưởng thành dài 1 - 2cm sống ở tá tràng và hỗng tràng, mỗi con hút máu khoảng 0,2ml/ngày, sống trung bình 5 năm do đó gây tình trạng thiếu máu nhược sắc nặng. Điều trị bằng mebendazole, flubendazole hoặc albendazole.

Giun lươn: Là loại Strongyloides stercoralis, loại giun này nhỏ dài 2 - 3cm, sống ở đoạn đầu ruột non, ít gặp hơn giun đũa và giun móc; ký sinh nhiều năm trong cơ thể vật chủ. Phát triển ở khu vực nhiệt đới và cận nhiệt đới nóng ẩm. Điều trị đặc hiệu là dùng thibendazole, có thể điều trị bằng mebendazole, flubendazole hoặc albendazole.

Giun tóc: Do loại Trichiuris Trichiura sống ở đại tràng, thường gặp nhất ở khu vực kém vệ sinh. Lây nhiễm do thức ăn, đồ uống sống, bẩn chứa trứng giun. Thường không có triệu chứng, phát hiện tình cờ qua xét nghiệm phân. Điều trị bằng mebendazole, flubendazole hoặc albendazole.

Nhiễm sán

Sán xơ mít: Gồm Taenia saginata và Taenia solium, đây là loại giun dẹt có đốt, dài 6-10m; Biểu hiện khi nhiễm: đau bụng mơ hồ, không đặc hiệu, chán ăn hoặc ăn không biết no. Điều trị bằng nicosamid hoặc praziquantel.

Sán máng: Còn gọi là bệnh Bilharzia do loài sán dẹt Schistosoma gây ra. Lây nhiễm bắt đầu từ ấu trùng sống trong nước ngọt xâm nhập vào da bệnh nhân, sau đó theo các tĩnh mạch và bạch mạch về gan. Biểu hiện lâm sàng giai đoạn cấp thường xuất hiện vào tuần thứ 4 - 6, với các triệu chứng đau đầu, sốt, rét run, ho, đau cơ, đau khớp, gan to đau, tăng bạch cầu ái toan. Nếu không được điều trị sẽ chuyển sang mạn tính với các biến chứng tại gan... Điều trị bằng praziquantel, đây là thuốc thông dụng nhất trong điều trị bệnh sán máng ở người vì hoạt tính tác dụng của chúng chống lại được tất cả các chủng sán máng. Nếu bệnh nhân không đáp ứng với thuốc này, có thể dùng oxamniquin. Oxamniquin là thuốc trị sán máng bán tổng hợp, có tác dụng trên cả dạng trưởng thành và chưa trưởng thành, nhưng không có tác dụng diệt ấu trùng. Thuốc chống chỉ định với người bị bệnh động kinh, rối loạn tâm thần, phụ nữ có thai và cho con bú. Tác dụng phụ thường gặp là chóng mặt, buồn ngủ, đau đầu, buồn nôn, tiêu chảy, ngứa, mày đay…

Sán lá gan lớn: Do nhiễm loài sán Fasciola hepatica. Biểu hiện lâm sàng chia làm 3 giai đoạn, biểu hiện cấp tính là giai đoạn ấu trùng vào gan, các triệu chứng sẽ là sốt, đau vùng gan, tăng bạch cầu ái toan, gan to, chức năng gan bị tổn thương; giai đoạn tiềm tàng biểu hiện với các triệu chứng rối loạn tiêu hóa mơ hồ, đây là lúc sán khu trú trong đường mật; giai đoạn tắc nghẽn là hậu quả của viêm và phì đại đường mật. Thuốc được lựa chọn trong điều trị sán lá gan lớn hiện nay là triclabendazol hoặc bithionol. Tốt nhất là khi đã thấy các biểu hiện nghi ngờ, người bệnh nên đến các cơ sở y tế chuyên khoa để được tư vấn, xét nghiệm và điều trị.