Chủ nghĩa đặc thù là gì

Ảnh minh họa. Nguồn: Internet

Tính đặc thù của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

Kinh tế thị trường là mô hình kinh tế hiện được nhiều quốc gia lựa chọn để thúc đẩy kinh tế phát triển. Việt Nam cũng không là ngoại lệ. Mặc dù vẫn mang những đặc trưng của kinh tế thị trường nói chung nhưng kinh tế thị trường ở Việt Nam có tính đặc thù riêng, là kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, khác biệt về bản chất so với kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa.

Để phát triển bền vững, doanh nghiệp cần gì?

Mãi tỏa sáng tinh thần Cách mạng Tháng Tám!

Vốn cho doanh nghiệp: Sử dụng hiệu quả nguồn vốn phi ngân hàng

Đổi mới chính sách tiền lương tạo động lực làm việc cho người lao động: Một số vấn đề trao đổi

Phấn đấu 2-3 ngân hàng Việt Nam nằm trong Top 100 châu Á vào năm 2025

Đổi mới tư duy nhằm mở đường cho sự phát triển KT-XH có tính đột phá ở nước ta

Nhân loại đã chứng kiến nhiều mô hình kinh tế khác nhau như kinh tế tự nhiên, kinh tế tập trung (kinh tế kế hoạch hóa) và kinh tế thị trường, trong đó kinh tế thị trường là mô hình được nhiều quốc gia lựa chọn cho quá trình thúc đẩy phát triển kinh tế.

Có thể hiểu, kinh tế thị trường là kiểu tổ chức nền kinh tế dựa trên các nguyên tắc và tuân thủ những quy luật của kinh tế thị trường. Kinh tế thị trường là mô hình kinh tế mở trong đó coi trọng và tuân thủ các quy luật vận động, điều tiết của thị trường, tôn trọng tự do cạnh tranh, tự do hợp tác, mở rộng giao lưu thương mại, tạo cơ hội cho mọi chủ thể kinh tế tham gia thị trường, tìm kiếm lợi nhuận,...

Ở Việt Nam, mặc dù đã có quan điểm manh nha về kinh tế thị trường từ Đại hội VI khi xác định xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, tuy nhiên phải đến Đại hội IX, thuật ngữ phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) mới chính thức được sử dụng trong Văn kiện của Đảng.

Đại hội Đảng XI đã đưa vào cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kì quá độ lên CNXH (Bổ sung, phát triển năm 2011) quan điểm về xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN: Phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, hình thức tổ chức kinh doanh và hình thức phân phối(1), Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo.

Kinh tế tập thể không ngừng được củng cố và phát triển. Kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân(2), Các yếu tố thị trường được tạo lập đồng bộ, các loại thị trường từng bước được xây dựng, phát triển, vừa tuân theo quy luật của kinh tế thị trường, vừa bảo đảm tính định hướng XHCN(3).

Tổng kết thực tiễn phát triển kinh tế thị trường ở nước ta, tại Đại hội XI, Đảng ta đã thống nhất nhận thức về nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam: Đó là nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế; có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền XHCN, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, nhằm mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; có quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất; có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước đóng vai trò chủ đạo, kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế; các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế bình đẳng, hợp tác và cạnh tranh theo pháp luật; thị trường đóng vai trò chủ yếu trong huy động và phân bổ các nguồn lực phát triển, là động lực chủ yếu để giải phóng sức sản xuất; các nguồn lực nhà nước được phân bố theo chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phù hợp với cơ chế thị trường.

Nhà nước đóng vai trò định hướng, xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế, tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng, minh bạch và lành mạnh; sử dụng các công cụ, chính sách và các nguồn lực của Nhà nước để định hướng và điều tiết kinh tế, thúc đẩy sản xuất kinh doanh và bảo vệ môi trường; thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội trong từng bước, từng chính sách phát triển. Phát huy vai trò của nhân dân trong phát triển kinh tế - xã hội(4).

Mô hình kinh tế thị trường định hướng XHCN không phải là sự gán ghép chủ quan giữa kinh tế thị trường và CNXH, mà là sự nắm bắt và vận dụng xu thế vận động khách quan của kinh tế thị trường trong thời đại ngày nay.

Thực tiễn đã cho thấy, những phương án và mô hình phát triển kinh tế thị trường khác nhau mang tính đặc thù, phụ thuộc vào những điều kiện xác định, hoàn cảnh phát triển cụ thể của quốc gia - dân tộc.

Một quốc gia đi sau không nhất thiết phải vận dụng cứng nhắc các nguyên lý lý luận; cũng không nhất thiết phải rập khuôn các mô hình kinh tế thị trường có sẵn ở đâu đó, dù là mô hình hiệu quả, để giải quyết các vấn đề phát triển mang nhiều nét đặc thù của mình.

Đảng Cộng sản Việt Nam trên cơ sở nhận thức tính quy luật phát triển của thời đại và sự khái quát, đúc rút kinh nghiệm phát triển kinh tế thị trường thế giới, đặc biệt là từ thực tiễn xây dựng CNXH ở Việt Nam để đưa ra chủ trương phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, nhằm sử dụng kinh tế thị trường để thực hiện mục tiêu từng bước quá độ lên CNXH.

Đây là một kiểu kinh tế thị trường mới trong lịch sử phát triển của kinh tế thị trường. Nếu nói kinh tế thị trường là cái phổ biến, thì kinh tế thị trường định hướng XHCN là cái đặc thù của Việt Nam, phù hợp với điều kiện và đặc điểm cụ thể của Việt Nam.

Từ quan điểm của Đảng có thể hiểu, tính đặc thù của kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam được thể hiện ở những điểm sau:

Thứ nhất, đó làmô hình kinh tế thị trường hỗn hợp, vừa vận hành theo cơ chế thị trường, vừa có sự điều tiết của nhà nước.

Nền kinh tế thị trường ở Việt Nam không phải là cái khác biệt mà đó vẫn là nền kinh tế vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật khách quan của kinh tế thị trường như quy luật tự do cạnh tranh, quy luật cung cầu, quy luật giá trị; thực hiện tự do hoá thương mại,...

Các nguyên tắc, thông lệ quốc tế trong quản lý và điều hành kinh tế được tuân thủ và vận dụng một cách hợp lý, linh hoạt. Thị trường đóng vai trò chủ yếu trong huy động và phân bổ có hiệu quả các nguồn lực phát triển; là động lực chủ yếu để giải phóng sức sản xuất(5).

Thị trường cũng chính là cơ chế chủ yếu thực hiện phân phối các thành quả của tăng trưởng kinh tế, trong đó thu nhập của mỗi người được hình thành trên cơ sở và phù hợp với kết quả lao động cũng như mức đóng góp về các nguồn lực trong quá trình tạo ra của cải xã hội.

Tuy nhiên, nền kinh tế thị trường đó không phải là kinh tế thị trường tự do mà có sự điều tiết, quản lý của nhà nước XHCN Việt Nam, bảo đảm định hướng XHCN nền kinh tế phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước trên nguyên tắc tuân thủ và tôn trọng các nguyên tắc của thị trường.

Nhà nước quản lý, điều hành nền kinh tế bằng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách, pháp luật, và bằng cả sức mạnh vật chất của lực lượng kinh tế nhà nước; thực hiện sự điều tiết ở tầm vĩ mô, định hướng, xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế; tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng, minh bạch bảođảm cho thị trường phát triển lành mạnh, tuân thủ các quy luật của kinh tế thị trường, tương thích với thông lệ của các nước; sử dụng các công cụ, chính sách và các nguồn lực của Nhà nước để định hướng và điều tiết nền kinh tế, thúc đẩy sản xuất kinh doanh và bảo vệ môi trường, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội trong từng bước, từng chính sách phát triển(6).

Thông qua những chính sách kinh tế, những biện pháp tài chính cần thiết, nhà nước phát huy cao độ những mặt tích cực, những ưu thế của nền kinh tế thị trường, hạn chế và khắc phục mặt tiêu cực của cơ chế thị trường, tạo điều kiện cho thị trường phát triển mạnh mẽ hơn và lành mạnh hơn, bảo vệ lợi ích hợp pháp của nhân dân.

Thứ hai, là mô hình kinh tế thị trường với đa dạng các hình thức sở hữu và đa dạng các thành phần kinh tế; đất đai thuộc sở hữu toàn dân.

Kinh tế thị trường ở Việt Nam có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế. Các thành phần kinh tế đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân, cùng bình đẳng, hợp tác, cạnh tranh cùng phát triển, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế.

Kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể cùng với kinh tế tư nhân là nòng cốt để phát triển một nền kinh tế độc lập, tự chủ(7). Các thành phần kinh tế đều hoạt động theo cơ chế thị trường nhưng theo định hướng chung và khuôn khổ pháp luật của nhà nước XHCN.

Sự lựa chọn đa dạng các hình thức sở hữu là phù hợp với trình độ phát triển chưa đồng đều của lực lượng sản xuất ở Việt Nam hiện nay nhằm khai thác tối đa thế mạnh của mọi nguồn lực kinh tế cho mục tiêu tăng trưởng.

Nhà nước coi trọng và tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế phát triển tự do, bình đẳng , thực hiện nhất quán một chế độ pháp lý kinh doanh cho các doanh nghiệp, không phân biệt hình thức sở hữu, thành phần kinh tế(8).

Trong đó, kinh tế nhà nước phải được củng cố và phát triển ở các vị trí then chốt của nền kinh tế, ở lĩnh vực an ninh quốc phòng, ở các lĩnh vực dịch vụ xã hội cần thiết... mà các thành phần kinh tế khác không có điều kiện hoặc không muốn đầu tư.

Kinh tế nhà nước là công cụ để Nhà nước thực hiện vai trò điều tiết vĩ mô và định hướng XHCN nền kinh tế, đảm bảo các cân đối lớn cho nền kinh tế, kiểm soát các nguồn tài nguyên chiến lược, phát triển các kết cấu hạ tầng và dịch vụ công có vốn đầu tư lớn, luân chuyển chậm, lợi nhuận không cao, rất cần thiết cho nền kinh tế - xã hội nhưng khu vực tư nhân không muốn đảm nhận;...

Kinh tế tư nhân là động lực quan trọng của nền kinh tế và sẽ được tạo các điều kiện phát triển, nhằm khai thác mọi tiềm năng, thế mạnh của thành phần kinh tế này cho thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, nhà nước cũng thực hiện quản lý, định hướng thành phần kinh tế này theo những mục tiêu chung của đất nước, đảm bảo hài hoà lợi ích doanh nghiệp và lợi ích của dân tộc.

Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam dựa trên chế độ công hữu về những tư liệu sản xuất cơ bản, đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước làm đại diện chủ sở hữu, thực hiện công khai, minh bạch việc quản lý, sử dụng đất công; tăng cường giám sát, quản lý chặt chẽ, nâng cao hiệu quả sử dụng đất giao cho các cộng đồng và doanh nghiệp(9).

phục vụ cho mục đích chung của toàn dân tộc và của nhân dân, bảo đảm quyền quản lý, thu lợi của Nhà nước đối với tài sản công và quyền bình đẳng trong việc tiếp cận, sử dụng tài sản công của mọi chủ thể trong nền kinh tế(10).

Thứ ba, việc phân phối trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam được thực hiện trên nguyên tắc chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế, đồng thời theo mức đóng góp vốn cùng các nguồn lực khác và phân phối thông qua hệ thống an sinh xã hội, phúc lợi xã hội(11).

Nền kinh tế thị trường ở nước ta với đa dạng hình thức sở hữu, đa dạng thành phần kinh tế, đa dạng phương thức sản xuất kinh doanh do đó cần đa dạng các hình thức phân phối. Trong nền kinh tế đó, lao động trở thành cơ sở quyết định địa vị và phúc lợi vật chất của mỗi người.

Vì vậy, phân phối theo lao động và hiệu quả kinh tế là hình thức phân phối căn bản, là nguyên tắc phân phối chủ yếu và thích hợp nhất, phù hợp với quan hệ sản xuất của các thành phần kinh tế đang tồn tại ở nước ta.

Bên cạnh đó, hình thức phân phối theo mức đóng góp vốn nhằm huy động tốt các nguồn lực cho mở rộng, phát triển sản xuất, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế cũng là rất cần thiết và công bằng đối với các chủ thể kinh tế.

Mặt khác, nền kinh tế thị trường ở nước ta là nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN với mục tiêu không chỉ dừng ở tốc độ tăng trưởng kinh tế mà còn không ngừng nâng cao đời sống nhân dân, thực hiện tốt các vấn đề an sinh xã hội, vì vậy, phân phối lại thông qua hệ thống phúc lợi xã hội cũng là rất đúng đắn và hợp lý nhằm đảm bảo công bằng, bình đẳng trong xã hội, góp phần thực hiện các mục tiêu của nhà nước XHCN Việt Nam.

Hơn nữa, phát triển kinh tế thị trường chúng ta cũng phải chấp nhận sự phân hóa thu nhập, phân hoá giàu nghèo ngày càng gia tăng, chấp nhận thực tế là sẽ có những nhóm người yếu thế, không đủ sức cạnh tranh trong vòng xoáy của cơ chế thị trường, gặp rủi ro...

Vai trò của Chính phủ là phải quan tâm đến vấn đề đó, hạn chế phân hóa xã hội sâu sắc bằng cách thực hiện tái phân phối lại thu nhập xã hội. Đây chính là nét ưu việt của chế độ phân phối trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam.

Thứ tư, là nền kinh tế thị trường do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam quản lý, điều tiết vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Kinh tế thị trường ở Việt Nam là nền kinh tế thị trường có tổ chức, có sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và sự quản lý của Nhà nước XHCN Việt Nam, được định hướng cao về mặt xã hội, có mục đích đảm bảo tối đa lợi ích của đại đa số nhân dân và sự phát triển bền vững của đất nước; tôn trọng và tạo điều kiện cho các chủ thể kinh tế tự do phát triển đồng thời thực hiện các biện pháp hữu hiệu để hạn chế những khuyết tật của tính tự phát thị trường.

Nền kinh tế đó chịu sự chi phối của các quy luật kinh tế XHCN mà nội dung căn bản là bảo đảm phúc lợi đầy đủ và sự phát triển tự do, toàn diện của mọi thành viên trong xã hội, vì lợi ích của đại đa số nhân dân, bảo đảm mọi người đều được bình đẳng trong tiếp cận các cơ hội và điều kiện phát triển, được tham gia và hưởng lợi từ quá trình phát triển(12).

Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam luôn được định hướng theo đuổi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; huy động sức mạnh của mọi thành phần kinh tế cũng như của toàn xã hội cho tăng trưởng kinh tế, từng bước nâng cao đời sống cho đại bộ phận nhân dân.

Tuy nhiên, việc thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế không phải bằng mọi giá, nóng vội mà phải được cân nhắc tính toán cho phù hợp với điều kiện đất nước theo hướng phát triển nhanh, hiệu quả mà bền vững; gắn mục tiêu tăng tưởng kinh tế với bảo đảm độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, bảo vệ môi trường... Nói cách khác, nền kinh tế thị trường đó không vì mục tiêu phát triển kinh tế mà hy sinh lợi ích quốc gia, độc lập dân tộc, huỷ hoại tài nguyên, môi trường...

Tăng trưởng kinh tế phải gắn với tiến bộ, công bằng xã hội trong từng bước, từng chính sách phát triển; Công bằng phải gắn với bình đẳng xã hội, công bằng không chỉ dừng ở phân phối lợi ích công bằng mà phải là công bằng về cơ hội phát triển - bảo đảm cho mọi thành viên trong cộng đồng đều có cơ hội như nhau để phát triển, đều được thụ hưởng lợi ích chính đáng, công bằng từ những kết quả lao động và cống hiến xã hội của mình, đồng thời có trách nhiệm đóng góp vào sự phát triển thịnh vượng chung của dân tộc;... Đây chính là tính nhân văn, ưu việt riêng có của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN Việt Nam.

Thứ năm, lànền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế(13).

Đặc trưng này thể hiện nền kinh tế thị trường mà nước ta xây dựng không phải là cái khác lạ so với kinh tế thị trường ở các nước, mà cũng là một bộ phận hữu cơ của nền kinh tế thị trường thế giới, kế thừa có chọn lọc những thành tựu phát triển kinh tế thị trường của nhân loại, hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách và các yếu tố thị trường, các loại thị trường đầy đủ, đồng bộ, vận hành thông suốt, gắn kết chặt chẽ với các nền kinh tế trên thế giới(14), tuân thủ các nguyên tắc, quy ước, hiệp định, điều lệ, chuẩn mực chung của thế giới để phát triển, thực hiện tự do hóa trên phạm vi quốc tế trong các lĩnh vực hợp tác thương mại, đầu tư, tài chính, dịch vụ, lao động, việc làm, tham gia vào chuỗi giá trị và mạng sản xuất toàn cầu; thực hiện chuyển giao các thành tựu, phát minh, sáng chế khoa học công nghệ hiện đại với các quốc gia

Nền kinh tế thị trường ở nước ta đã và đang thực hiện quá trình hội nhập quốc tế, mở rộng và gia tăng các mối quan hệ với các nước trong khu vực và trên thế giới nhằm tranh thủ nhiều cơ hội hợp tác, giúp đỡ về nhiều mặt từ các nước, đặc biệt là các quốc gia phát triển; chủ động và tích cực, nhanh chóng và hiệu quả, tận dụng tốt những thời cơ, vận hội, phát huy tối đa các nguồn lực trong và ngoài nước cho mục tiêu tăng trưởng kinh tế, đồng thời có những biện pháp gia tăng khả năng dự phòng của nền kinh tế, ứng phó tốt với những rủi ro, thách thức của tiến trình hội nhập.

Như vậy kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam sẽ mang những nét đặc thù và khác về bản chất với nền kinh tế thị trường TBCN.

Một là, kinh tế thị trường TBCN dựa trên chế độ sở hữu tư nhân TBCN, là nền kinh tế thị trường phục vụ và bảo vệ cho lợi ích của thiểu số giai cấp tư sản. Kinh tế thị trường XHCN dựa trên chế độ sở hữu toàn dân và tập thể có mục tiêu phục vụ lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, xóa bỏ chế độ áp bức, bóc lột.

Hai là, việc phân phối trong nền kinh tế thị trường TBCN chủ yếu quan tâm đến lợi ích của giới chủ tư bản, các tập đoàn kinh tế lớn, chứ không phải hướng đến lợi ích của đa số tầng lớp nhân dân lao động.

Ngay cả việc thực hiện các chính sách phúc lợi xã hội trong nền kinh tế thị trường TBCN cũng trên cơ sở lợi ích của các tầng lớp trên đã được đảm bảo chứ không phải là mục tiêu hướng đến của kinh tế thị trường TBCN. Trong sự phát triển của kinh tế thị trường TBCN, vấn đề công bằng xã hội chỉ được đặt ra khi mặt trái của cơ chế thị trường đã làm gay gắt các vấn đề xã hội, tạo ra nguy cơ bùng nổ xã hội, đe dọa sự tồn tại của CNTB.

Việc thực hiện các chính sách phúc lợi, giải quyết các vấn đề xã hội của các chính phủ tư sản chỉ giới hạn trong khuôn khổ TBCN, chỉ được xem là phương tiện để duy trì chế độ TBCN. Trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, Nhà nước chủ động ngay từ đầu việc giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội. Vấn đề công bằng xã hội không chỉ là phương tiện để phát triển nền kinh tế thị trường mà còn là mục tiêu của chế độ xã hội mới.

Kinh tế thị trường theo định hướng XHCN không chỉ quan tâm đến tốc độ tăng trưởng cao mà còn chú ý mức sống thực tế của mọi tầng lớp dân cư đều được nâng lên, y tế, giáo dục đều phát triển, khoảng cách giàu - nghèo được thu hẹp, đạo đức, truyền thống, bản sắc văn hóa dân tộc được giữ vững, môi trường sinh thái được bảo vệ, ổn định xã hội được bảo đảm...

Ba là, trong cơ chế thị trường TBCN, sự can thiệp của nhà nước nếu có thì cũng luôn mang tính chất tư sản với mục đích nhằm bảo đảm môi trường kinh tế - xã hội thuận lợi cho sự thống trị của giai cấp tư sản, cho sự bền vững của chế độ bóc lột TBCN, kìm hãm những mâu thuẫn, xung đột xã hội ảnh hưởng trực tiếp đến sự tồn vong của chế độ TBCN.

Trong cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng XHCN, thì sự can thiệp của nhà nước XHCN vào nền kinh tế lại nhằm bảo vệ quyền lợi chính đáng của toàn thể nhân dân lao động, bảo đảm cho mọi người dân đều được bình đẳng trong tiếp cận các cơ hội và điều kiện phát triển, được tham gia và hưởng lợi từ quá trình phát triển.

Kinh tế thị trường theo định hướng XHCN là mô hình chưa có tiền lệ trong lịch sử. Song, với những đặc trưng ưu việt và mục đích tốt đẹp của nó, kinh tế thị trường định hướng XHCN là một lựa chọn tất yếu, phù hợp với bối cảnh thời đại quá độ từ CNTB lên CNXH trên phạm vi toàn thế giới hiện nay.

Tuy nhiên, cần nhận thức rõ, quá trình xây dựng và hoàn thiện nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam là không đơn giản, đó là quá trình lâu dài và trải qua nhiều giai đoạn, vừa tìm tòi, phát triển không ngừng trong nhận thức lý luận, vừa phải linh hoạt, sáng tạo trong thực tiễn, ứng phó tốt trước muôn vàn khó khăn, thách thức, đòi hỏi sự quyết tâm và đồng lòng của cả dân tộc cũng như sự tích cực, nỗ lực thực hiện của các địa phương, ban ngành trong cả nước.

_______________________

(1), (2), (3) ĐCSVN Văn kiện Đại hội toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.73, 73-74, 74.

(4) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội toàn quốc lần thứ XII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2016, tr.25-26.

(5), (6), (7), (8), (9), (10), (11), (12), (13), (14) Nghị quyết số 11-NQ/TW,Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XII, http://www.dangcongsan.vn, ngày 9-6-2017.

THÔNG TIN CẦN QUAN TÂM
  • Yếu tố nào tác động tới báo cáo tài chính?

  • Vai trò của cộng đồng doanh nghiệp trong thực hiện an sinh xã hội, phát triển bền vững

  • Người Việt xuất khẩu gạo được 2,5 tỷ USD nhưng uống bia hết gần 4 tỷ USD

Tin nổi bật

Ký kết Biên bản ghi nhớ hợp tác chuyển đổi số giữa Bộ Tài chính và Tập đoàn Viettel

Dòng tiền dịch chuyển sang nhóm an toàn, VN-Index có thể duy trì vùng điểm 1.450 - 1.460

Ủy ban Thường vụ Quốc hội khai mạc Phiên họp thường kỳ thứ 5

Từ vụ tắc lô hàng hơn 22.000 hộp sữa viện trợ, cần thay áo mới trong kiểm tra chuyên ngành

Một số hình ảnh nổi bật tại Hội nghị trực tuyến toàn quốc công bố triển khai Hệ thống hóa đơn điện tử

QPTD -Chủ Nhật, 27/01/2013, 09:40 (GMT+7)
Bàn về tính phổ biến và tính đặc thù của kinh tế thị trường

Góp ý cho Điều 54 của Dự thảo Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam năm 1992 (sửa đổi năm 2013), có người cho rằng, khi nói về chế độ kinh tế của Việt Nam, chỉ cần khẳng định Nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị trường, không cần thêm cụm từ định hướng XHCN; bởi đã là kinh tế thị trường thì kinh tế thị trường ở nước nào cũng như nhau cả! Có đúng vậy không (?), khi mà nghiên cứu kỹ các mô hình kinh tế thị trường trên thế giới, thấy nổi lên là: bên cạnh cái chung, chúng cũng có cái riêng, cần phải nhận thức.

Thực tiễn gần 30 năm lựa chọn mô hình kinh tế thị trường (KTTT) thay cho mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp làm phương tiện để xây dựng CNXH ở nước ta đã khẳng định: đây là sự lựa chọn đúng đắn. Vì thế, tại Đại hội XI, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung, phát triển năm 2011) của Đảng tiếp tục khẳng định phát triển nền KTTT định hướng XHCN1 là một trong tám phương hướng cơ bản phải quán triệt và thực hiện tốt trong thời kỳ quá độ lên CNXH.

Việc vận hành các quan hệ thị trường trong quá trình thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng và bảo vệ Tổ quốc gần 30 năm qua đã đem lại cho đất nước ta nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử; mà nổi bật là: nước ta đã ra khỏi tình trạng kém phát triển, bộ mặt của đất nước và đời sống của nhân dân có nhiều thay đổi; sức mạnh về mọi mặt được tăng cường, độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và chế độ XHCN được giữ vững, vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao2. Tuy nhiên, những tác động mặt trái của KTTT kết hợp với những yếu kém trong công tác quản lý, nhất là quản lý vĩ mô nền kinh tế, cũng đang làm nảy sinh những ý kiến khác nhau khi nhận thức về KTTT. Câu hỏi đặt ra là: liệu thuật ngữ KTTT có tính từ không? Hay nói cách khác, KTTT chỉ có tính phổ biến, hay có cả tính đặc thù? Lợi dụng vấn đề này, không ít người đã ra sức bài bác đường lối đổi mới của Đảng ta, phê phán mô hình KTTT định hướng XHCN, coi đó là sự chắp vá gượng gạo cái sản phẩm (tức KTTT) chỉ có ở CNTB cho CNXH!

Cần phải khẳng định ngay rằng, KTTT không phải là sản phẩm riêng của CNTB, mà nó còn có mặt ở cả những chế độ kinh tế - xã hội (KT-XH) khác. Nó là kết quả sự phát triển tự nhiên của sức sản xuất xã hội. Khi sức sản xuất xã hội đạt đến trình độ nhất định sẽ làm xuất hiện những điều kiện khách quan để các quan hệ thị trường nảy nở và phát triển. Đó là phân công lao động xã hội và những hình thức sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất. Những điều kiện khách quan đó đã xuất hiện trước khi CNTB ra đời và tiếp tục còn tồn tại trong xã hội XHCN, nên việc tiếp tục phát triển KTTT trong chế độ XHCN là hợp quy luật. Do vậy, nói rằng: chỉ riêng CNTB mới có KTTT, còn CNXH là nền kinh tế kế hoạch hóa là không đúng. Thực tiễn đã chỉ ra rằng, cả kinh tế kế hoạch và KTTT đều là sản phẩm của nền sản xuất xã hội hóa cao. Kinh tế kế hoạch cũng tồn tại ngay trong CNTB, nhất là trong giai đoạn CNTB độc quyền nhà nước; và KTTT, hay kinh tế hàng hóa, cũng vẫn tồn tại, phát triển trong CNXH, một khi các điều kiện khách quan cho sự tồn tại và phát triển của nó vẫn chưa mất đi. Bản thân KTTT là giai đoạn phát triển cao của kinh tế hàng hóa, nên trước hết nó là kinh tế hàng hóa. Việc sử dụng thuật ngữ kinh tế hàng hóa hay KTTT chỉ là sự khái quát khác nhau của một thực thể kinh tế, mà cái khác nhau nằm ở trọng tâm của mỗi sự diễn đạt, nhằm phân biệt với một thực thể kinh tế khác. Theo đó, thuật ngữ KTTT được các nhà kinh tế học tư sản hiện đại3 sử dụng đầu tiên để nhấn mạnh vai trò điều tiết của thị trường trong sự phân biệt với nền kinh tế chỉ huy, được điều tiết bởi kế hoạch mệnh lệnh. Còn thuật ngữ kinh tế hàng hóa được các nhà kinh tế học xô-viết sử dụng để phân biệt với các quan hệ kinh tế hiện vật phi thị trường. Ở nước ta, trước Đại hội IX, thuật ngữ kinh tế hàng hóa cũng được dùng phổ biến; còn thuật ngữ KTTT chỉ bắt đầu được sử dụng tại Đại hội IX, khi khẳng định: Đảng và Nhà nước ta chủ trương thực hiện nhất quán và lâu dài chính sách phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN; đó chính là nền KTTT định hướng XHCN4. Vậy là thuật ngữ KTTT được Đảng ta sử dụng sau này cũng chỉ để nói về một thực thể kinh tế. Đó là nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần.

KTTT có mặt ở nhiều chế độ KT-XH, nên có những điểm chung; đồng thời, do gắn với từng chế độ KT-XH và từng nền văn hóa khác nhau, nó cũng có điểm đặc thù. Có thể khái quát tính chung của KTTT ở những nét chính sau:

- Đều vận hành theo sự chi phối của các quy luật chung: quy luật giá trị, quy luật lưu thông tiền tệ, quy luật cạnh tranh và quy luật cung - cầu.

- Chủ thể thị trường có tính độc lập. Theo đó, người sản xuất - kinh doanh (SX-KD) có quyền tự do kinh doanh, tự chủ trong việc quyết định: sản xuất cái gì, sản xuất bằng cách nào và sản xuất cho ai? Họ có quyền tự lựa chọn loại hình tổ chức và quản lý SX-KD thích hợp; tự chịu trách nhiệm kết quả SX-KD và phải lấy lợi nhuận làm động lực và mục tiêu của hoạt động kinh tế. Đối với người tiêu dùng, họ được xem là thượng đế, bởi họ là người quyết định sự tồn tại của người SX-KD thông qua việc mua nhiều hay ít, hoặc không mua hàng của người SX-KD nào đó trên thị trường.

- Thị trường giữ vai trò quyết định việc phân bổ các nguồn lực của xã hội. Các yếu tố đầu vào, đầu ra của sản xuất phải được lưu thông tự do trên thị trường. Muốn vậy, hệ thống thị trường và các loại thị trường phải được hình thành đồng bộ và vận hành trôi chảy theo tín hiệu của thị trường

-Giá cả hàng hóa, dịch vụ hình thành tự do trên thị trường, phụ thuộc vào hao phí lao động xã hội cần thiết và sự điều tiết của cung - cầu thị trường. Nhờ đó, tính cạnh tranh của thị trường được đề cao. Mọi sự can thiệp không tương thích với thị trường trong việc hình thành giá đều làm tổn hại đến sự vận hành trôi chảy của cả nền kinh tế.

- Các chủ thể thị trường có địa vị bình đẳng về mặt pháp lý trong các giao dịch kinh doanh. Sự bình đẳng này được bảo đảm bằng hệ thống pháp luật đồng bộ, nên các yếu tố cạnh tranh của thị trường không bị bóp méo.

- Là nền kinh tế mở, thị trường dân tộc gắn liền với thị trường thế giới.

- Chính phủ quản lý vĩ mô nền kinh tế, nhằm khắc phục những thất bại của thị trường. Hiện nay, không ở nước nào có nền KTTT tự do thuần túy.

Bên cạnh những tính chung nói trên, tính đặc thù của KTTT có thể tìm thấy ở những mô hình KTTT khác nhau, gắn liền với điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội nhất định. Có thể nhận diện tính đặc thù của KTTT qua một số tiêu chí sau:

- Chế độ sở hữu nào giữ vai trò chủ đạo, nền tảng trong một cơ cấu kinh tế có nhiều hình thức sở hữu điều kiện tiên quyết cho sự tồn tại và phát triển của KTTT. Sự khác nhau này sẽ chi phối mục đích phát triển KTTT, mục đích can thiệp của nhà nước, địa vị của người lao động và nguyên tắc phân phối sản phẩm làm ra.

- Bản chất giai cấp của nhà nước sẽ làm nên sự khác biệt về mục đích chủ yếu của việc nhà nước quản lý, điều tiết nền KTTT.

- Bản sắc văn hóa, điều kiện KT-XH của mỗi quốc gia sẽ làm cho nền KTTT của mỗi quốc gia có những nét riêng. Trong thực tế, không có một nền KTTT trừu tượng, mà chỉ có những nền KTTT cụ thể, gắn liền với một chế độ KT-XH cụ thể, một nền văn hóa, một quốc gia, dân tộc cụ thể. Các yếu tố đó tạo nên những dấu ấn rất riêng trong các mô hình KTTT của mỗi quốc gia. Bản thân các mô hình: KTTT có kế hoạch của Nhật Bản, KTTT xã hội của Cộng hòa Liên bang Đức, KTTT của Mỹ, KTTT hỗn hợp của Bắc Âu, KTTT của các con rồng châu Á đều có những điểm khác biệt, mặc dù chúng đều tồn tại trong cùng một thể chế kinh tế chính trị TBCN. Chẳng hạn, trong mô hình KTTT của Nhật Bản, sự kết hợp giữa chức năng điều tiết của thị trường và chức năng kế hoạch của chính phủ được xem là một đặc trưng; ở đó, vai trò điều hành của chính phủ được thực hiện bằng các kế hoạch 5 năm, 10 năm. Trong khi đó, ở mô hình KTTT của Mỹ, yếu tố kế hoạch không được thừa nhận. Trong mô hình KTTT xã hội của Cộng hòa Liên bang Đức, chính phủ lại có trách nhiệm tổ chức trật tự kinh tế nhằm đảm bảo vừa chống độc quyền và những hoạt động cạnh tranh không lành mạnh; vừa chống tự do vô chính phủ. Mô hình KTTT Bắc Âu lại hướng tới công bằng xã hội và phúc lợi xã hội cao hơn so với mô hình của Đức, dựa vào nguồn thu từ việc đánh thuế cao đối với các doanh nghiệp. Trong mô hình này, kinh tế nhà nước chỉ chiếm có 10%, song thường chiếm giữ những ngành kinh tế then chốt, với mục đích chủ yếu nhằm chống lại sức ép và khống chế của các công ty nước ngoài...

Nhận thức được tính chung và tính đặc thù của KTTT trong quá trình phát triển nền KTTT ở nước ta, chúng ta phải vừa tuân thủ tính chung mà bất cứ nền KTTT nào cũng có; đồng thời, phải đặc biệt quan tâm đến tính đặc thù, nhằm hiện thực hóa từng bước mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Đó chính là mô hình KTTT định hướng XHCN. Mô hình đó có những đặc điểm sau:

- Lấy việc giải phóng và phát triển lực lượng sản xuất theo hướng hiện đại, cải thiện đời sống nhân dân làm mục đích phát triển KTTT. Do vậy, cùng với việc khai thác những mặt tích cực, phù hợp với mục tiêu xây dựng CNXH, chúng ta phải rất chú trọng khắc phục những tác động mặt trái của nó gây ra.

- Dựa trên cơ cấu kinh tế nhiều thành phần, nhiều hình thức sở hữu về tư liệu sản xuất; trong đó, kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo. Điều đó đòi hỏi phải vừa tạo điều kiện để mọi thành phần kinh tế đều phát triển, vừa phải chăm lo củng cố, giữ vững và phát huy vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước. Trong giai đoạn hiện nay, để kinh tế nhà nước làm tốt hơn vai trò chủ đạo, cần quán triệt và thực hiện có hiệu quả Kết luận số 50-KL/TW về Đề án Tiếp tục sắp xếp, đổi mới và nâng cao hiệu quả của doanh nghiệp nhà nước trong tình hình mới của Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương (khóa XI) lần thứ 6 vừa qua. Theo đó, phải đẩy mạnh tái cấu trúc doanh nghiệp nhà nước mà trọng tâm là các tập đoàn kinh tế và tổng công ty nhà nước trên cơ sở tôn trọng, vận dụng đầy đủ, đúng đắn các quy luật, nguyên tắc của KTTT; kiên quyết chấm dứt tình trạng đầu tư dàn trải ra ngoài lĩnh vực SX-KD chính; đồng thời, hoàn thiện thể chế quản lý doanh nghiệp nhà nước, đổi mới quản trị và cơ chế hoạt động cho phù hợp với điều kiện phát triển KTTT.

- Lấy cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước pháp quyền XHCN làm cơ chế vận hành nền kinh tế. Theo đó, chúng ta phải quan tâm giải quyết tốt mối quan hệ giữa nhà nước với thị trường. Nhà nước vừa không phó mặc cho thị trường điều tiết, vừa không tùy tiện can thiệp làm sai lệch các quan hệ thị trường khi thực hiện quyết tâm chính trị: hiện thực hóa các mục tiêu của CNXH. Bên cạnh đó, phải chăm lo xây dựng bản chất giai cấp công nhân của Nhà nước ta, đảm bảo cho Nhà nước ta thực sự là nhà nước của dân, do dân, vì dân. Muốn vậy, chúng ta phải vừa coi trọng việc nâng cao năng lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước, vừa đẩy mạnh cuộc đấu tranh phòng, chống quan liêu, tham nhũng một cách quyết liệt, nhằm làm trong sạch bộ máy Nhà nước ta.

- Giải quyết vấn đề công bằng xã hội được chú ý ngay trong từng bước phát triển của nền kinh tế. Theo đó, công bằng xã hội không chỉ là phương tiện để tăng trưởng và phát triển như trong nền KTTT TBCN, mà còn là mục tiêu cần phải hiện thực hóa từng bước trong quá trình đi lên CNXH. Do vậy, vấn đề công bằng xã hội phải được đặt ra ngay trong từng chiến lược, kế hoạch phát triển KT-XH của cả nước cũng như của từng bộ, ngành, địa phương.

Thừa nhận KTTT có tính chung; đồng thời có cả tính đặc thù không thuần túy chỉ có ý nghĩa học thuật. Chỉ có trên cơ sở nhận thức đúng cái chung và cái riêng đó, mới có cơ sở để kiên định với sự lựa chọn mô hình KTTT định hướng XHCN mà Điều 54 của Dự thảo Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam năm 1992 (sửa đổi năm 2013) đã nêu ra./.

Đại tá, ThS. DƯƠNG VĂN THI

Trường Sĩ quan Chính tr