Điều trị rối loạn đông máu khi mang thai

Khi mang thai cơ thể sẽ có sự thay đổi rất là nhiều kể cả về tâm lý, sẽ có nhiều vấn đề lo lắng khi mắc bệnh lý rối loạn đông máu, ở người bình thường có 12 yếu tố đông máu, được đánh dấu I đến XII, nhưng khi các mẹ bầu sẽ có biểu hiện thiếu hụt về các yếu tố này đặc biệt là VIII, IX, XI thì sẽ gây ra bệnh Hemophilia. Do vậy rối loạn đông máu khi mang thai có nguy hiểm gì không.

Cơ chế đông máu bình thường

Cơ thể bình thường là khi co thắt các mạch máu khi có dấu hiệu vết thương gây chảy máu, sau đó các tiểu cầu tụ tập ngay chỗ vết thương tạo ra  Fibrin cục máu. 

Cơ chế tiêu sợi huyết được cân bằng nếu mất sợi huyết sẽ phục hồi lại và lưu thông mạch máu trở lại.

Khi mạch máu bị vỡ hay bị rách ra các sợi huyết này giúp ngăn ngừa lưu thông phục hồi tránh tắc mạch nội mạc được phục hồi, khung fibrin tiêu đi khi được thiết tại vùng sửa chữa.

Điều trị rối loạn đông máu khi mang thai

Rối loạn đông máu khi mang thai có nguy hiểm gì không?

do rối loạn đông máu ở mẹ bầu do thiếu hụt protein yếu tố VIII, rối loạn khi chảy máu ần để dính tiểu cầu trong giai đoạn đầu của quá trình đông máu sẽ gây ra:

Âm thầm chảy máu ngẫu biến: Fibrinigen trong cục máu đông mất đi, các yếu tố đông máu và tiểu cầu sẽ làm tổn thương đến bánh rau và tử cung gây ra nguy hiểm mẹ và con.

Tắc mạch nước ối: Chúng ta chỉ nhận biết được khi tai tử vong, chất gây ở thai và mạch máu trong tế bào phổi có các tế bào bong trong. Đây chính là 1 biến chứng khi chọc ối, thao tác cho thai ra ngoài, mổ lấy thai của các bác sỹ.

Biểu hiện của tim đập nhanh, thở gấp, tím tái, huyết áp bị hạ gây nhiều nghẽn mạch nhiều cục nhỏ cư trú ở phổi sẽ làm động mạch phổi tăng, huyết áp tĩnh mạch tăng.

Trong lòng mạch sẽ có nhiều fibrinigen nhỏ hình thành nên giống như do nước ối các cục nghẽn mạch gây lên và sẽ fibrinolysin sẽ được thoát ra.

Gây thai chết lưu: Rối loạn đông máu có thể xẩy ra trong bệnh cảnh này, song chỉ trong trường hợp thai chết lưu còn lại trong Tc ít nhất 1 tháng. Các thromboplastin gây nên các cục máu nghẽn mạch nhỏ, các chất kích hoạt plasminogen được giải phóng từ bánh rau đang thoái hóa của thai nhi.

Điều trị rối loạn đông máu khi mang thai

Sảy thai nhiễm khuẩn ở mẹ bầu: Khi bị hoại tử ở các mô và được giải phóng ra bên ngoài nghiêm trọng hơn là gây nhiễm khuẩn ở các phụ nữ khi mang thai.

Khi mang thai có triệu chứng rối loạn đông máu sẽ rất là nguy hiểm cho chuyện sinh nở vì rất  khó cầm được máu. Nếu biết mình bị bệnh này trước thời kỳ có thai chúng ta cần đến bệnh viện để điều trị ổn định hơn về bệnh và được xét nghiệm, các bác sỹ sẽ theo dõi thường xuyên hơn.

Với các chị em mắc bệnh rối loạn đông máu mà chưa có thai thì tránh có thai thì tốt vì khi để sảy ra rồi phá thai, thai chết lưu nguy cơ băng huyết ở chị em là cao, rất nguy hiểm đến tính mạng.

Hội chứng tăng đông máu ở phụ nữ có thai: nguy hiểm khôn lường

Bình thường, cơ thể sẽ chỉ hình thành cục máu đông để cầm máu cho cơ thể sau khi bị tổn thương, chảy máu. Trong bệnh lý tăng đông máu, các cục máu đông sẽ hình thành nhiều hơn mức bình thường. Đây là một bệnh lý khá nguy hiểm đặc biệt trên đối tượng phụ nữ có thai. Theo ước tính, ở Mỹ cứ 5 người thì có một người bị mắc hội chứng tăng đông máu.

Mọi phụ nữ có thai có thể chung sống bình thường với căn bệnh này. Tuy nhiên, nó có thể gây một số vấn đề về sức khỏe cho các bà bầu và trong những trường hợp nghiêm trọng, hội chứng tăng đông máu còn gây tử vong cho cả mẹ và con.

Các biến chứng bà bầu có thể gặp phải nếu mắc hội chứng tăng đông máu

Nếu bạn mắc phải một căn bệnh thuộc nhóm rối loạn tăng đông máu gọi là Hội chứng kháng thể kháng phospholipid (antiphospholipid syndrome – APS). Khi đó, bạn sẽ có nguy cơ gặp phải những biến chứng sau trong thai kỳ:

  • Hạn chế tăng trưởng trong tử cung (Intrauterine growth restriction – IUGR): là hội chứng mà sự tăng trưởng của thai nhi bị hạn chế, do đó em bé sinh ra sẽ nhỏ hơn bình thường.
  • Thiểu năng/ suy nhau thai (placental insufficiency): nhau thai phát triển trong tử cung và có vai trò cung cấp chất dinh dưỡng cũng như oxy cho thai nhi thông qua dây rốn. Nếu nhau thai bị suy yếu, nó sẽ không thể thực hiện được chức năng vốn có khiến cho thai nhi không được nhận đủ chất dinh dưỡng và bị thiếu oxy.
  • Tiền sản giật (preeclampsia): là một hội chứng xuất hiện sau tuần thứ 20 thai kỳ hoặc ngay sau khi mang thai thường trên đối tượng phụ nữ bị huyết áp cao khiến cho các cơ quan như gan và thận không thể làm việc tốt. Các triệu chứng khác bao gồm protein niệu, thay đổi thị giác và đau đầu dữ dội.
  • Sinh non: Khi em bé bị sinh ra trước tuần 37 của thai kỳ.
  • Sẩy thai: khi thai nhi chết trong tử cung trước tuần 28 thai kỳ.

Điều trị rối loạn đông máu khi mang thai

Những đối tượng có nguy cơ cao mắc hội chứng tăng đông máu

Những đối tượng sau đây sẽ có nguy cơ mắc bệnh tăng đông máu cao hơn bình thường:

  • Đã từng bị sảy thai 3 – 5 lần trước tuần thứ 10 và không rõ nguyên nhân; hoặc đã từng bị sảy thai sau tuần thứ 10 thai kỳ và không rõ nguyên nhân.
  • Đã từng bị lưu thai.
  • Đã từng sinh non trước tuần 34 thai kỳ do mắc hội chứng sản giật, tiền sản giật nặng hoặc một bất thường nào đó ở nhau thai.
  • Đã từng bị huyết khối trong quá trình mang thai.

Nếu bạn đã từng gặp phải các vấn đề trên, hãy trao đổi với bác sỹ để xét nghiệm chẩn đoán hội chứng tăng đông máu. Việc phát hiện sớm và điều trị kịp thời sẽ giúp bạn có được một sức khỏe tốt trong quá trình mang thai và sinh con khỏe mạnh.

Chẩn đoán hội chứng tăng đông máu

Để chẩn đoán hội chứng này bạn sẽ cần thực hành một số xét nghiệm máu.

Nếu bạn đã từng gặp một số vấn đề về đông máu hoặc có tiền sử gia đình mắc hội chứng tăng đông máu, hãy trao đổi với bác sỹ để làm các xét nghiệm xác định xem bản thân có mắc hội chứng tăng đông máu do di truyền hay không.

Hầu hết những người mắc hội chứng này đề không có triệu chứng nào. Dấu hiệu nhận biết đầu tiên có thể xuất hiện khi bạn mắc một số bệnh nào đó liên quan đến đông máu, bao gồm:

Huyết khối (thrombosis): khi có cục máu đông hình thành trong mạch máu và gây tắc nghẽn dòng chảy của máu. Hiện tượng này xảy ra phổ biến nhất trong các tĩnh mạch sâu tại chân những cũng có thể xảy ra ở các bộ phận khác của cơ thể.

  • Huyết khối tĩnh mạch não (cerebral vein thrombosis - CVT): cục máu đông hình thành tại tĩnh mạch trên não. Các triệu chứng bao gồm đau đầu dai dẳng, nhìn mờ và co giật.
  • Huyết khối tĩnh mạch sâu (deep vein thrombosis - DVT): cục máu đông hình thành tại các tĩnh mạch sâu bên trong cơ thể, thường là ở cẳng chân hoặc đùi. Triệu chứng bao gồm đau nhức, nóng và sưng lên ở tĩnh mạch, da ửng đỏ ở vùng có cục máu đông.

Nghẽn mạch phổi (pulmonary embolism – PE): Cục máu đông hình thành ở một nơi khác và di chuyển đến phổi gây nghẽn mạch phổi. Tình trạng này làm lượng oxy trong máu giảm xuống và gây tổn thương cho các cơ quan. Đây là một cấp cứu sản khoa nghiêm trọng và là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong trong thai kỳ. Dấu hiệu và triệu chứng của nghẽn mạch phổi bao gồm khó thở, tim đập nhanh và loạn nhịp, đau ngực, chóng mặt, cảm giác lo lắng bồn chồn, ho ra máu.

Huyết khối tĩnh mạch (venous thromboembolism - VTE): xảy ra khi cục máu đông bị vỡ và được máu tuần hoàn đưa đến các hệ cơ quan lớn như não, phổi và tim. Hội chứng này bao gồm DVT và PE. VTE có thể làm nghẽn các mạch máu ở não hoặc tim gây đột quỵ hoặc cơn đau tim.

Bác sỹ sẽ sử dụng phương pháp siêu âm hoặc chụp cộng hưởng từ (MRI) để chẩn đoán những hội chứng trên. Các phương pháp này không gây đau và khá an toàn cho cả mẹ và con.

Điều trị rối loạn đông máu khi mang thai

Điều trị hội chứng tăng đông máu

Các phương pháp điều trị sẽ phụ thuộc:

  • Căn bệnh tăng đông máu mà bạn mắc phải
  • Bạn đã từng bị cục máu đông trước kia hay chưa
  • Tiền sử gia đình

Một số phụ nữ cần được điều trị bằng các thuốc chống đông máu ví dụ như heparin. Nếu bạn mắc hội chứng kháng thể kháng phospholipid và đã từng bị sảy thai, bác sỹ có thể kê aspirin liều thấp và heparin để dự phòng sảy thai.

Ngoài ra, một số phương pháp sau cũng được sử dụng để kiểm tra tình trạng sức khỏe của thai nhi:

  • Siêu âm: bác sỹ có thể sử dụng phương pháp siêu âm Doppler để kiểm tra huyết động trong động mạch dây rốn.
  • Theo dõi nhịp tim thai: để đảm bảo thai nhi vẫn được cung cấp đủ oxy.

Sau khi sinh, bác sỹ vẫn sẽ tiếp tục điều trị cho bạn bằng heparin hoặc một loại thuốc chống đông khác là warfare. Warfarin có thể sử dụng an toàn sau thai kỳ, ngay cả khi bạn cho con bú, tuy nhiên nó không được sử dụng cho phụ nữ có thai do nguy cơ gây dị tật thai nhi.

Cần lưu ý là một số loại thuốc tránh thai có thể làm gia tăng nguy cơ bị cục máu đông và không an toàn khi sử dụng nếu bạn đang mắc phải hội chứng tăng đông máu. Do vậy, hãy hỏi ý kiến bác sỹ để có thể lựa chọn một biện pháp tránh thai khác an toàn hơn.

Nguyên nhân gây hội chứng tăng đông máu

Hội chứng tăng đông máu mắc phải không phải là một bệnh di truyền mà tự nó hình thành và tiến triển, phổ biến nhất là hội chứng kháng thể kháng phospholipid (APS). APS là một rối loạn tự miễn tương tự như lupus ban đỏ.  Hội chứng này là tình trạng tăng đông qua trung gian kháng thể có đặc trưng là huyết khối động mạch hoặc tĩnh mạch tái đi tái lại và/hoặc bệnh lý về thai kỳ với sự hiện diện của tự kháng thể kháng protein huyết tương gắn phospholipid. Cứ 100 phụ nữ mang thai thì có 5 người mắc phải hội chứng APS.

Khi hội chứng tăng đông máu là di truyền trong gia đình,nguyên nhân có thể là do đột biến gien. Sự thay đổi cấu trúc của một số gien tổng hợp protein nào đó sẽ khiến bạn dễ mắc phải hội chứng này bao gồm:

  • Rối loạn yếu tố V Leiden
  • Rối loạn Prothrombin
  • Thiếu hụt protein C
  • Thiếu hụt protein S
  • Thiếu hụt antithrombin

Tham khảo thêm thông tin tại bài viết: 10 yếu tố làm tăng nguy cơ hình thành cục máu đông