Ví dụ về cơ sở giá trị thị trường

Giá trị sổ sách

Là giá của một tài sản được ghi trong bảng cân đối kế toán của một công ty. Nó thể hiện chi phí lịch sử của tài sản hơn là giá trị hiện tại của nó. Ví dụ, giá trị sổ sách của cổ phiếu ưu đãi của một công ty là số tiền mà các nhà đầu tư trả cho nó lần đầu tiên. Vì vậy, đó là số tiền mà công ty nhận được khi cổ phiếu được phát hành.

Giá trị phá sản

Giá trị phá sản hay giá trị thanh lý là lượng tiền thu được nếu bán tài sản của doanh nghiệp. Ví dụ, nếu hoạt động của công ty bị chấm dứt, tài sản của nó được chia ra và bán đi, giá bán sẽ thể hiện giá thanh lý của tài sản. Phương pháp xác định giá trị thị trường của tài sản trong cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước hiện nay thực chất là xác định giá trị phá sản của tài sản.

Giá trị thị trường

Giá trị thị trường hay thị giá của một tài sản là giá trị của tài sản đó khi nó được mua bán trên thị trường. Giá trị này được xác định bởi những lực lượng cung và cầu hoạt động cùng nhau trên thị trường, nơi mà người mua và người bán thương thuyết chấp nhận một giá cả chấp nhận chung cho tài sản đang xem xét. Ví dụ, giá trị thị thường của cổ phiếu HAG trong phiên đóng cửa ngày 6/6 là 38.500 đồng/CP. Giá này là kết quả của một số lượng lớn người bán và người mua tác động lẫn nhau qua Sở GDCK TP. HCM. Về mặt lý thuyết, tất cả các tài sản đều có giá trị thị trường. Tuy nhiên, không ít tài sản khó biết được giá trị này, vì việc mua bán ít xuất hiện.

Giá trị thực

Giá trị thực hay giá trị kinh tế của một tài sản là giá trị hiện tại của những luồng tiền trong tương lai dự tính thu được từ tài sản đó, được chiết khấu về thời điểm hiện tại với tỷ lệ lợi tức yêu cầu thích hợp của nhà đầu tư. Giá trị này là lượng tiền mà nhà đầu tư xem là cân bằng trong điều kiện cho trước về số lượng, thời điểm, mức độ rủi ro của những luồng tiền trong tương lai. Một khi nhà đầu tư đã ước tính giá trị thực của một chứng khoán, họ sẽ so sánh với giá trị thị trường của nó. Nếu giá trị thực lớn hơn giá trị thị trường, chứng khoán này bị định giá thấp dưới con mắt của nhà đầu tư và ngược lại.

Lưu ý, nếu TTCK hoạt động có hiệu quả, giá trị thị trường và giá trị thực của chứng khoán sẽ bằng nhau. Bất cứ lúc nào, khi giá trị thực của một chứng khoán khác với giá thị trường hiện tại, sự cạnh tranh giữa các nhà đầu tư tìm kiếm cơ hội thu lợi nhuận sẽ nhanh chóng đẩy giá thị trường ngược trở lại giá trị thực.

Thị trường có hiệu quả tức là thị trường trong đó giá trị tất cả các chứng khoán tại bất cứ thời điểm nào đều phản ánh đầy đủ những thông tin công khai sẵn có và trong một thị trường như vậy, giá trị thị trường và giá trị thực là như nhau. Nếu các thị trường hoạt động có hiệu quả thì sẽ cực kỳ khó khăn cho nhà đầu tư tạo thêm lợi nhuận từ khả năng phán đoán giá, vì giá cả sẽ phản ứng rất nhanh chóng đối với những thông tin mới cập nhật.

Bộ phận tư vấn và phân tích CTCK Hà Nội - HSSC
Bộ phận tư vấn và phân tích CTCK Hà Nội - HSSC

Thị trường là một cụm từ được nhiều người nhắc đến trên thực tế nhưng không phải ai cũng hiểu rõ khái niệm này. Ví dụ về thị trường?

Thị trường là gì?

Thị trường là nơi chuyển giao quyền sở hữu sản phẩm, dịch vụ hoặc tiền tệ nhằm thỏa mãn nhu cầu của hai bên cung và cầu về một loại sản phẩm nhất định theo các thông lệ hiện hành, từ đó xác định rõ số lượng và giá cả cần thiết của sản phẩm, dịch vụ.

Ngoài ra có thể hiểu thị trường là một tập hợp những người mua và người bán tác động qua lại lẫn nhau, dẫn đến khả năng trao đổi.

– Là nơi diễn ra các hoạt động mua và bán một thứ hàng hóa nhất định nào đó. Với nghĩa này, có thị trường gạo, thị trường cà phê, thị trường chứng khoán, thị trường vốn,…

Cũng có một nghĩa hẹp khác của thị trường là một nơi nhất định nào đó, tại đó diễn ra các hoạt động mua bán hàng hóa và dịch vụ. Với nghĩa này, có thị trường Hà Nội, thị trường miền Trung.

Ví dụ về cơ sở giá trị thị trường

Ví dụ về thị trường

Để làm rõ hơn khái niệm thị trường nội dung sau đây sẽ đưa ra Ví dụ về thị trường?

Ví dụ về thị trường trong bán hàng:

Nếu bán hàng đúng nơi thì sẽ thu được thành quả. Nếu sai thị trường thì sẽ không nhận được gì, thậm chí tốn chi phí và thời gian.

Rõ ràng, nếu không hiểu rõ nhu cầu khách hàng của mình sẽ chẳng thể bán bất cứ điều gì. Những người khách hàng mục tiêu sẽ cảm thấy bị tổn thương nếu chỉ tập trung bán hàng mà không để tâm đến nhu cầu của họ.

Người bán hàng giỏi sẽ là người khéo léo khai thác nhu cầu của khách hàng và cố gắng nhất để đem lại lợi ích cho họ.

Ví dụ: Có hai người đều bán bóng đèn cho các hộ trang trại nuôi gà.

Người A: Đến trang trại và giới thiệu mình bán bóng đèn, bóng tốt thế nào, dây chuyển sản xuất ra sao, công nghệ gì,… Nói xong quá ức chế người chủ trang trại đã đuổi đi.

Người B: Người này thì khác, anh ta giới thiệu mình đến từ đâu. Hôm nay đến để mua trứng gà và xin phép đi thăm trang trại gà. Nghe bà chủ trang trại kể về loại gà của mình. Căn cứ vào tình trạng chiếu sáng của trang trại để gợi ý mua thêm thiết bị chiếu sáng, giúp gà sinh sản nhiều hơn, lợi nhuận cao hơn. Bà chủ trang trại nghe xong, đặt luôn hợp đồng.

Từ đó thấy được rằng việc tìm hiểu thị trường và nhu cầu khách hàng là rất quan trọng nếu muốn đạt được kết quả nhất định từ việc bán hàng và mở rộng thị trường.

Các biểu hiện của thị trường

– Chợ truyền thống: Nơi người mua và người bán trực tiếp thỏa thuận (mặc cả) giá của hàng hóa.

– Chợ onlline: Nơi người mua được lựa chọn và so sánh giá cả.

– Siêu thị: Nơi người bán quyết định giá cả, người mua chỉ được quyền chọn lựa.

– Chứng khoán: Người mua và người bán đều phải thông qua môi giới trung gian.

– Đấu giá: Nơi người mua được quyền quyết định giá.

Chức năng của thị trường là gì?

Thị trường có một số chức năng như sau:

– Ấn định giá cả đảm bảo sao cho số lượng hàng mà những người muốn mua bằng số lượng hàng của những người muốn bán.

Không thể xem xét giá cả và số lượng một cách tách biệt. Giá cả thị trường chi phối xã hội trong việc chọn mua cái gì, mua như thế nào và mua cho ai.

– Thừa nhận công dụng xã hội của hàng hóa (giá trị sử dụng xã hội) và lao động đã chi phí để sản xuất ra nó, thông qua việc hàng hóa đó có bán được hay không, bán với giá thế nào.

– Cung cấp thông tin cho người sản xuất và người tiêu dùng thông qua những biến động của nhu cầu xã hội về số lượng, chất lượng, chủng loại, cơ cấu của các loại hàng hóa, giá cả, tình hình cung cầu về các loại hàng hóa.

– Kích thích hoặc hạn chế sản xuất và tiêu dùng.

Yếu tố phân biệt thị trường

– Tính đồng nhất hay sự giống nhau của sản phẩm là mức độ mà một đơn vị sản phẩm giống với một đơn vị sản phẩm khác được đem ra mua bán. Có những cấp độ theo đó các sản phẩm đưa ra giao dịch giống nhau.

Thực tiễn trắc nghiệm cho thấy, sản phẩm có tính đồng nhất hay không là việc sản phẩm này hoàn toàn có thể thay thế cho sản phẩm kia, việc thay thế sản phầm này bằng sản phầm kia mang tính đồng nhất sẽ không làm thay đổi giá trị thị trường.

– Chi phí vận chuyển giữ vai trò quan trọng. Sản phẩm càng có giá trị so với chi phí vận chuyển sản phẩm, thị trường càng rộng lớn và ngược lại chi phí vận chuyển càng lớn so với giá trị hàng hóa thì thị trường càng hẹp.

Ví dụ thị trường gạch ngói là một thị trường địa phương. Mặt khác, thị trường vàng thỏi là thị trường toàn cầu.

– Chi phí thông tin liên lạc cũng giới hạn phạm vi của thị trường. Đối với người nội trợ đi chợ, thường thì chẳng đáng bỏ công ra đi tìm ra đúng chỗ bán mớ rau rẻ nhất. Nhưng đối với một số mặt hàng, các chi phí thông tin liên lạc cực cao.

Thị trường bất động sản là một điển hình. Muốn biết rõ có bao nhiêu ngôi nhà định bán, ta sẽ phải dành rất nhiều thời gian tìm hiểu và tốn kém chi phí. Do đó, sẵn sàng chi tiền hoa hồng hay tiền “cò” cho người trung gian giúp để có được một ngôi nhà ưng ý.